PHÁP LUẬT VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 (viết tắt là Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017), và thay thế Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11. Luật quy định về người được trợ giúp pháp lý; tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý; người thực hiện trợ giúp pháp lý; hoạt động trợ giúp pháp lý; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động trợ giúp pháp lý.
Để hiểu rõ quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang xin trân trọng giới thiệu một số tình huống pháp luật về Trợ giúp pháp lý, như sau
1. Tình huống 01
Ông S là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tỉnh Tuyên Quang, ông đã có tuổi đi lại khó khăn, ốm đau liên miên, ông muốn bán đi một phần đất của mình lấy tiền gửi tiết kiệm dưỡng già, mua thêm thuốc men hằng tháng, tuy nhiên ông không am hiểu về pháp luật, nghe hàng xóm nói ông có thể được đề nghị Trung tâm Trợ giúp pháp lý của Sở Tư pháp thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí cho mình.
Hỏi: Ông S có thuộc đối tượng được Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện trợ giúp pháp lý không?
Trả lời: Ông S thuộc đối tượng được đề nghị Trung tâm Trợ giúp pháp lý của Sở Tư pháp thực hiện việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật, vì:
* Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về người được trợ giúp pháp lý, gồm:
“1. Người có công với cách mạng.
2. Người thuộc hộ nghèo.
3. Trẻ em.
4. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
5. Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
6. Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.
…”.
Như vậy, căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lýnăm 2017, ông S thuộc đối tượng được đề nghị Trung tâm Trợ giúp pháp lý của Sở Tư pháp thực hiện việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật.
2. Tình huống 02
A tốt nghiệp đại học Luật, do là con một trong gia đình nên bố mẹ muốn A về quê lập nghiệp. A có quen biết anh hàng xóm cũng tốt nghiệp đại học Luật, đang là Trợ giúp viên pháp lý tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước của Sở Tư pháp, qua tìm hiểu A thấy công việc Trợ giúp viên pháp lý cũng rất phù hợp với A.
Hỏi: Nếu A được tuyển dụng vào làm việc tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước của Sở Tư pháp, A có thể được làm Trợ giúp viên pháp lý không?
Trả lời:
* Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý, như sau:
“Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý:
1. Có phẩm chất đạo đức tốt;
2. Có trình độ cử nhân luật trở lên;
3. Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý;
4. Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý;
5. Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật”.
Như vậy, căn cứ quy định tại Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, nếu A được tuyển dụng vào làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thì A phải có đủ tiêu chuẩn quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 19 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 thì mới được bổ nhiệm và cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý.
3. Tình huống 03
Chị Y thuộc hộ nghèo, là nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình, qua nghe tuyên truyền trên loa truyền thông của xã, chị được biết Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có quy định người là nạn nhân của hành vi bạo lực gia đình là đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện.
Hỏi: Chị Y có thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện không?
Trả lời: Chị Y thuộc hộ nghèo, là nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình, do vậy chị Y sẽ thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thực hiện, vì:
* Điểm e khoản 7 Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người được trợ giúp pháp lý, gồm:
... “7. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính:
a) Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
b) Người nhiễm chất độc da cam;
c) Người cao tuổi;
d) Người khuyết tật;
đ) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;
e) Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình;
g) Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
h) Người nhiễm HIV.
4. Tình huống 04
Là kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh A, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe. Năm 2024, ông T được giải quyết chế độ hưu trí, ông có nguyện vọng được làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý để hỗ trợ về pháp lý, tư vấn về pháp luật cho người dân tộc thiểu số nơi mình cư trú.
Hỏi: Theo nguyện vọng của mình, ông T có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý không?
Trả lời: Ông T là kiểm sát viên đã nghỉ hưu, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý do vậy ông T có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý, vì:
* Điều 24 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về cộng tác viên trợ giúp pháp lý, như sau:
“1. Ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ nhu cầu trợ giúp pháp lý của người dân và điều kiện thực tế tại địa phương, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước đề nghị Giám đốc Sở Tư pháp cấp thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý cho người có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Những người đã nghỉ hưu, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, có sức khỏe, có nguyện vọng thực hiện trợ giúp pháp lý có thể trở thành cộng tác viên trợ giúp pháp lý, bao gồm: trợ giúp viên pháp lý; thẩm phán, thẩm tra viên ngành Tòa án; kiểm sát viên, kiểm tra viên ngành kiểm sát; điều tra viên; chấp hành viên, thẩm tra viên thi hành án dân sự; chuyên viên làm công tác pháp luật tại các cơ quan nhà nước.”...
5 Tình huống 5:
Ông M, là người dân tộc Nùng, thuộc hộ nghèo, là đối tượng được trợ giúp pháp lý. Ông đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh yêu cầu tư vấn pháp luật về vụ việc tranh chấp lối đi chung với hàng xóm. Khi đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý, nộp Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý, căn cước, giấy chứng nhận hộ nghèo. Tuy nhiên, ông M không mang theo giấy tờ, tài liệu nào liên quan đến vụ việc đề nghị trợ giúp pháp lý. Trợ giúp viên pháp lý đề nghị ông xuất trình các giấy tờ liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý để có căn cứ tư vấn chính xác, khách quan.
Hỏi: Để có căn cứ tư vấn chính xác, khách quan về việc tranh chấp lối đi chung với hàng xóm, ông M có cần phải cung cấp giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ việc tranh chấp đất đai không?
Trả lời:
* Điểm c khoản 1 Điều 29 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về yêu cầu trợ giúp pháp lý, như sau:
“1. Khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, gồm có:
a) Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý;
b) Giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;
c) Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý …".
Như vậy, để được tư vấn pháp luật một cách chính xác, khách quan, ông M phải cung cấp các giấy tờ, tài liệu liên quan đến vụ việc tranh chấp đất đai, như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các loại giấy tờ chứng minh liên quan đến tranh chấp…
6 Tình huống 6:
Bà H (dân tộc Kinh) 66 tuổi cư trú tại xã X. Bà có nhu cầu phân chia di sản thừa kế cho các con của mình, bà băn khoăn không biết mình có thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý hay không?
Hỏi: Theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, bà H có thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý không?
Trả lời: Bà H (dân tộc Kinh) 66 tuổi (là người cao tuổi), không thuộc diện có khó khăn về tài chính do vậy bà H không thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý, vì:
* Khoản 7 Điều 7 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định người được trợ giúp pháp lý, gồm:
“… 7. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính:
a) Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
b) Người nhiễm chất độc da cam;
c) Người cao tuổi;
d) Người khuyết tật;
đ) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự;
e) Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình;
g) Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
h) Người nhiễm HIV.
…”
* Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009 quy định:
”Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.
Như vậy, bà H là người cao tuổi, tuy nhiên không thuộc đối tượng có khó khăn về tài chính (người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật), do vậy bà H không thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
7. Tình huống 7
Ông T năm nay 70 tuổi, thuộc hộ nghèo tại xã B. Ông nghe trên Hệ thống truyền thanh cơ sở tuyên truyền thì ông thuộc diện đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí. Hiện gia đình ông đang có một số vấn đề liên quan đến pháp luật về đất đai cần được tư vấn.
Hỏi: Ông T thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý, vậy ông có quyền lựa chọn cho mình người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố không?
Trả lời: Ông T thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý, khi đề nghị trợ giúp pháp lý cho mình, ông có quyền lựa chọn người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố, vì:
* Điều 8 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về quyền của người được trợ giúp pháp lý, như sau:
“1. Được trợ giúp pháp lý mà không phải trả tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác.
2. Tự mình hoặc thông qua người thân thích, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác yêu cầu trợ giúp pháp lý.
3. Được thông tin về quyền được trợ giúp pháp lý, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý khi đến tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và các cơ quan nhà nước có liên quan.
4. Yêu cầu giữ bí mật về nội dung vụ việc trợ giúp pháp lý.
5. Lựa chọn một tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý tại địa phương trong danh sách được công bố; yêu cầu thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý khi người đó thuộc một trong các trường hợp theo quy định.
…”.
8. Tình huống 8
Văn phòng luật sư A hoạt động gần 10 năm, có 02 tư vấn viên pháp luật có 03 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật, 01 luật sư làm việc thường xuyên tại Văn phòng. Ông B Trưởng Văn phòng Luật sư muốn ký hợp đồng trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
Hỏi: Với 02 tư vấn viên pháp luật có 03 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật, 01 luật sư làm việc thường xuyên tại Văn phòng thì Văn phòng luật sư A có đủ điều kiện về số lượng tư vấn pháp luật, luật sư để được Sở Tư pháp lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý không?
Trả lời: Với 02 tư vấn viên pháp luật có 03 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật, 01 luật sư làm việc thường xuyên tại Văn phòng, Văn phòng luật sư A đủ điều kiện về số lượng tư vấn pháp luật, luật sư hành nghề để được Sở Tư pháp lựa chọn, ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý, vì:
* Khoản 2 Điều 14 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định về điều kiện để các tổ chức được Sở Tư pháp lựa chọn ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý, trong đó có điều kiện về số lượng tư vấn pháp luật và luật sư hành nghề, như sau:
“…2. Căn cứ yêu cầu trợ giúp pháp lý và thực tiễn tại địa phương, Sở Tư pháp lựa chọn, ký kết hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với tổ chức có nguyện vọng và có đủ điều kiện sau đây:
a) Có lĩnh vực đăng ký hoạt động phù hợp với lĩnh vực trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017;
b) Là tổ chức hành nghề luật sư; tổ chức tư vấn pháp luật có ít nhất 01 tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên hoặc 01 luật sư làm việc thường xuyên tại tổ chức;
c) Có cơ sở vật chất phù hợp với hoạt động trợ giúp pháp lý;
d) Không đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật…”./.
NGƯỜI BIÊN SOẠN : Nguyễn Thị Hòa