1. Tình huống 01: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua các số lô, số đề
Chiều ngày 25/12/2025, ông Thạch (trú tại xã Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) mua 5 số lô và 5 số đề thông qua việc gọi điện và nhắn tin cho ông M - người làm “chủ đề” trên địa bàn.
Hỏi: Hành vi mua các số lô, số đề của ông Thạch nêu trên có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi mua các số lô, số đề của ông Thạch là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 36. Hành vi đánh bạc trái phép
1. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi mua các số lô, số đề.”
Theo quy định nêu trên, hành vi mua các số lô, số đề sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.
2. Tình huống số 02: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bảo vệ các điểm đánh bạc trái phép
Ông Hải (sinh năm 1990, trú tại phường Minh Xuân, tỉnh Tuyên Quang) được một nhóm đối tượng tổ chức đánh bạc trái phép thuê làm nhiệm vụ cảnh giới, bảo vệ tại một điểm đánh bạc đặt tại nhà riêng của một người dân trên địa bàn, bắt đầu làm việc từ ngày 15/12/2025, tiền công ông Hải được trả là 300.000 đồng/ngày.
Hằng ngày, khi các đối tượng tụ tập đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa và tổ tôm, ông Hải có nhiệm vụ đứng gác bên ngoài, theo dõi người lạ, báo hiệu khi phát hiện lực lượng chức năng hoặc người nghi vấn. Biết công việc của chồng, chị Thu khuyên can rằng anh Hải không nên nhận công việc đó nữa vì đó là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Hỏi: Ý kiến của chị Thu là đúng hay sai, tại sao?
Trả lời: Ý kiến của chị Thu là đúng. Hành vi bảo vệ các điểm đánh bạc trái phép là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điểm d khoản 3 Điều 36 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 36. Hành vi đánh bạc trái phép
... 3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
d) Bảo vệ các điểm đánh bạc trái phép;”
Theo quy định nêu trên, hành vi bảo vệ các điểm đánh bạc trái phép sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
3. Tình huống số 03: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua dâm
Ông Đ (sinh năm 1985, trú tại phường A, tỉnh H) trong thời gian lưu trú tại một nhà nghỉ trên địa bàn đã thỏa thuận trả tiền để thực hiện hành vi mua dâm với một phụ nữ tên A (sinh năm 1990) do người khác giới thiệu. Hai bên thống nhất mức tiền, thời gian và địa điểm thực hiện hành vi.
Chiều ngày 23/12/2025, trong quá trình kiểm tra hành chính tại cơ sở lưu trú, lực lượng chức năng phát hiện ông Đ đang ở trong phòng cùng chị A, thu giữ tiền và các vật chứng có liên quan. Qua làm việc, ông Đ thừa nhận đã thỏa thuận và thực hiện hành vi mua dâm với chị A.
Hỏi: Hành vi mua dâm của ông Đ nêu trên có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi mua dâm của ông Đ là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Khoản 1 Điều 32 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 32. Hành vi mua dâm
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi mua dâm.”
Theo quy định nêu trên, hành vi mua dâm sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
4. Tình huống số 04: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đặt máy trò chơi điện tử trái phép
Bà Hạ (sinh năm 1978, trú tại xã Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang) là chủ một cửa hàng bán cafe, nước giải khát trên địa bàn.
Ngày 27/12/2025, khi chưa đăng ký kinh doanh điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng với cơ quan chức năng có thẩm quyền, bà Hạ đã đặt mua 03 máy trò chơi điện tử đặt trong khu vực cửa hàng để thu hút khách và tăng thu nhập, với cách thức người chơi nạp tiền để chơi, kết quả thắng – thua được quy đổi trực tiếp bằng tiền mặt.
Hỏi: Hành vi đặt máy trò chơi điện tử khi chưa đăng ký với cơ quan chức năng có thẩm quyền của bà Hạ có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi đặt máy trò chơi điện tử khi chưa đăng ký với cơ quan chức năng có thẩm quyền của bà Hà là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điểm c khoản 4 Điều 36 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 36. Hành vi đánh bạc trái phép
... 4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:
... c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;
Theo quy định nêu trên, hành vi đặt máy trò chơi điện tử trái phép sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
5. Tình huống số 05: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi hành hạ, ngược đãi như bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho vệ sinh cá nhân
Bà Xuân (sinh năm 1975) là người trực tiếp chăm sóc bà Màu (sinh năm 1945), là người cô họ, cùng sinh sống tại Thôn 1, xã Thái Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Vì bực tức khi đi làm công ty về mệt mà vẫn phải chăm sóc và phục vụ bà Màu do bà Màu đã già yếu, ko tự chăm sóc bản thân được nên trong thời gian từ ngày 15/12/2025 đến 25/12/2025, bà Xuân thường xuyên bắt bà Màu nhịn ăn, nhịn uống, không cho ăn uống đầy đủ theo nhu cầu sinh hoạt bình thường. Ngoài ra, bà Xuân còn không cho bà Màu thay quần áo khi bị ướt và không cho tắm rửa trong nhiều ngày.
Hỏi: Hành vi bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho vệ sinh cá nhân của bà Xuân có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho vệ sinh cá nhân của bà Xuân là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điểm a khoản 3 Điều 37 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 37. Hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng
... 3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Hành hạ, ngược đãi như bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân;”
Theo quy định nêu trên, hành vi nhịn ăn, nhịn uống, không cho vệ sinh cá nhân sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
6. Tình huống số 06: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi không nuôi dưỡng, không chăm sóc thành viên gia đình là phụ nữ mang thai, người già yếu, người cao tuổi
Hai vợ chồng anh T và chị H hiện đang sống cùng mẹ là bà L (sinh năm 1940) tại thôn An, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Ngày 05/12/2025, bà L bị trượt ngã gãy chân nên hiện tại vẫn chưa thể hồi phục và đi lại được, mọi sinh hoạt của bà L phụ thuộc vào anh T và chị H. Ngày 19/12/2025, chị H đang mang thai tháng thứ 6, phải nhập viên điều trị do thai yếu.
Biết vậy nhưng anh T vẫn thường xuyên đi uống rượu, không thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc bà L, bỏ mặc, không quan tâm đến chị H khi chị nhập viện cũng như không đóng góp, hỗ trợ về tài chính trong gia đình.
Hỏi: Hành vi của anh T bỏ mặc, không quan tâm, không nuôi dưỡng, không chăm sóc bà L và chị H có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của anh T bỏ mặc, không quan tâm, không nuôi dưỡng, không chăm sóc bà L và chị H hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điểm a khoản 1 Điều 38 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 38. Hành vi bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, không chăm sóc thành viên gia đình là phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người già yếu, người cao tuổi, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, không chăm sóc thành viên gia đình là phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người già yếu, người cao tuổi, người không có khả năng tự chăm sóc;”
Theo quy định nêu trên, hành vi của anh T bỏ mặc, không quan tâm, không nuôi dưỡng, không chăm sóc bà L và chị H sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
7. Tình huống số 07: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu
Quá trình chung sống không hòa thuận và có nhiều khác biệt nên anh Thuận và chị My quyết định sống “ly thân” trong quá trình đợi Tòa án nhân dân giải quyết yêu cầu ly hôn. Anh Thuận và chị My thống nhất con trai là cháu Bảo - 5 tuổi sẽ ở với chị My.
Sau nhiều lần gọi điện cho chị My với mục đích nói chuyện, hỏi thăm cháu nội nhưng không được. Ngày 25/12/2025, bà Son và ông Mẫn là ông bà nội của cháu Bảo sang nhà riêng của chị My để nói chuyện, khuyên giải và mong muốn thăm nom, chăm sóc cháu Bảo. Tuy nhiên, vì mâu thuẫn nên chị My đã ngăn cản không cho ông Mẫn và bà Son gặp cháu Bảo.
Hỏi: Hành vi của chị My ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giữa ông Mẫn, bà Son và cháu Bảo có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của chị My ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giữa ông Mẫn, bà Son và cháu Bảo là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điều 42 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 42. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án.”
Theo quy định nêu trên, hành vi của chị My ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giữa ông Mẫn, bà Son và cháu Bảo sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
8. Tình huống số 08: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật
Vì nhiều mâu thuẫn, ngày 20/6/2025 anh Hiếu và chị Hiên đã ly hôn theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân, trong đó giao con chung là cháu Minh (sinh năm 2022) cho chị Hiên trực tiếp nuôi dưỡng; anh Hiếu có nghĩa vụ cấp dưỡng hằng tháng và tham gia chăm sóc con theo quy định.
Sau khi ly hôn, mặc dù có việc làm và thu nhập ổn định, ông Hiếu không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thường xuyên né tránh, không hợp tác, không thăm nom, chăm sóc cháu Minh trong thời gian dài. Ngày 26/12/2025, bà Hiên tiếp tục gọi điện nhắc nhở nhưng ông Hiếu vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ.
Hỏi: Hành vi của anh Hiếu trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của anh Hiếu trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điểm b khoản 1 Điều 43 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 43. Vi phạm quy định về chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
... b) Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha, mẹ; nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.”
Theo quy định nêu trên, hành vi của của anh Hiếu trốn tránh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chăm sóc con sau khi ly hôn sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
9. Tình huống số 09: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cưỡng ép thành viên gia đình đóng góp tài chính quá khả năng của họ
Ông Bầu có con trai là anh Bảo (sinh năm 2000), hiện đang sinh sống tại Vĩnh Tuy. Anh Bảo đi làm tự do với thu nhập không ổn định. Dù biết rõ điều kiện kinh tế của anh Bảo không có nguồn thu nhập ổn định nhưng ông Bầu vẫn yêu cầu và ép buộc anh Bảo phải đóng góp 8.000.000 đồng mỗi tháng để phục vụ các chi tiêu của gia đình.
Khi anh Bảo trình bày không đủ tiền để đóng góp mỗi tháng thì ông Bầu đe dọa, gây áp lực tinh thần, chửi mắng, buộc anh Bảo phải vay mượn tiền để đưa cho mình.
Hỏi: Hành vi của ông Bầu yêu cầu, ép buộc anh Bảo - con trai của mình đóng góp tài chính quá khả năng của anh Bảo có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của ông Bầu yêu cầu, ép buộc anh Bảo - con trai của mình đóng góp tài chính quá khả năng của anh Bảo là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Điểm d khoản 1 Điều 44 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định như sau:
“Điều 44. Hành vi bạo lực về kinh tế
1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
... d) Cưỡng ép thành viên gia đình đóng góp tài chính quá khả năng của họ;”
Theo quy định nêu trên, ông Bầu yêu cầu, ép buộc anh Bảo - con trai của mình đóng góp tài chính quá khả năng của anh Bảo sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
10. Tình huống số 10: Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cố ý tiết lộ cho người có hành vi bạo lực biết nơi tạm lánh của người bị bạo lực gia đình
Bà Yến do bị chồng là ông Thiện nhiều lần có hành vi bạo lực gia đình đe dọa sức khỏe, tính mạng nên bà Yến được cơ quan chức năng và người thân bố trí tạm lánh tại một địa điểm an toàn trên địa bàn từ ngày 15/12/2025.
Bà Hồng - là hàng xóm của gia đình ông Thiện bà Yến tình cờ một lần đi chợ biết được chỗ ở hiện tại của bà Yến. Dù biết rõ việc giữ bí mật về nơi tạm lánh là cần thiết để bảo vệ bà Yến nhưng do mâu thuẫn cá nhân từ trước, bà Hồng đã cố ý tiết lộ cho ông Thiện biết nơi tạm lánh của bà Yến.
Hỏi: Hành vi của bà Hồng cố ý tiết lộ cho ông Thiện biết nơi tạm lánh của bà Yến có phải là hành vi vi phạm hành chính không, nếu có sẽ bị xử phạt như thế nào?
Trả lời:
Hành vi của bà Hồng cố ý tiết lộ cho ông Thiện biết nơi tạm lánh của bà Yến là hành vi vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, cụ thể:
Ngày 30/10/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, trong đó tại điểm a Khoản 1 Điều 50 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định như sau:
“Điều 50. Vi phạm quy định về tiết lộ, phát tán thông tin về người bị bạo lực gia đình, người báo tin, tố giác hành vi bạo lực gia đình và không công khai bảng giá dịch vụ trợ giúp phòng, chống bạo lực gia đình có thu phí theo quy định của pháp luật
1. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Cố ý tiết lộ hoặc tạo điều kiện cho người có hành vi bạo lực biết nơi tạm lánh của người bị bạo lực gia đình;”
Theo quy định nêu trên, hành vi của bà Hồng cố ý tiết lộ cho ông Thiện (người có hành vi bạo lực gia đình) biết nơi tạm lánh của bà Yến (người bị bạo lực gia đình) sẽ bị phạt tiền với mức phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng./.
NGƯỜI BIÊN SOẠN: Nguyễn Phương Thúy